Sinh ra tại làng Địa Linh, nơi từng nổi danh xứ Huế với nhiều nghề truyền thống như vẽ phù, đúc ông Táo mỗi dịp tết…, ông Khương Văn Lanh lại chọn đến với khảm xà cừ vốn kén người học. Nghề này đòi hỏi rất cao sự khéo tay, óc thẩm mỹ, khả năng cảm nhận bố cục cùng sự kiên trì. "Thầy tôi cũng ở làng Địa Linh, chỉ bảo lúc tôi vừa học xong cấp 2. Thầy dặn rằng nghề khảm xà cừ vừa khó học lại nhọc công, nhưng một khi nên hình hài, tác phẩm có thể sống cùng năm tháng. Bị chê cười hay được ngợi khen, cái tiếng của người thợ đều lưu lại để hậu thế bình xét. Do đó, thợ khảm phải đề cao tính thẩm mỹ, phải thận trọng trong từng nét cưa, cắt…", ông Lanh mở đầu câu chuyện.
Nghệ nhân Khương Văn Lanh giới thiệu bức tranh khảm xà cừ với chủ đề Nhị thập tứ hiếu trên tủ thờ ẢNH: HOÀNG SƠN
Ông bảo khảm xà cừ không đơn giản là "dán cho đẹp". Một bức khảm đẹp phải được tổ chức chặt chẽ, có trước có sau, có trọng tâm và đối xứng, có âm có dương. Để có tác phẩm mỹ thuật hoàn chỉnh, ngay từ đầu nghệ nhân phải xác định chính xác bố cục. Chỉ vào chiếc tủ thờ vừa hoàn thiện, ông Lanh cho biết những bức tranh khảm lên tủ được "diễn" theo tích Nhị thập tứ hiếu (24 gương hiếu thảo của văn học cổ Trung Hoa). Mỗi hiếu là một tích, một cảnh riêng nhưng khi ráp vào tấm gỗ lớn lại không rời rạc mà liên kết với nhau thành câu chuyện hoàn chỉnh, có mở - có thắt, có lớp nghĩa ở hình mà lại ẩn nhiều nội dung bên trong. Nhìn từ xa hay nhìn nghiêng là một bức tranh lấp lánh, nhưng càng soi kỹ càng thấy sự công phu và dụng ý của người thợ.
Giới thiệu một cảnh nhỏ nằm trong bức tranh lớn, ông Lanh nói: "Ví dụ, hình ảnh "nằm trên băng chờ cá chép" là tích mô tả người xưa nằm trên mặt băng. Nhờ hơi ấm từ cơ thể làm băng tan để bắt cá mang về nấu cho cha mẹ... Hiểu được tích rồi, mới thấy tranh sâu chứ không phải chỉ lấp lánh cho vui mắt. Trong chiếc tủ này, tôi đã sắp xếp 24 hiếu thành những bức tranh khác nhau ở nhiều vị trí".
Nghề khảm xà cừ đòi hỏi kỹ năng tạo tác ẢNH: HOÀNG SƠN
Tác phẩm của ông Lanh thường xoay quanh các đề tài quen thuộc như Nhị thập tứ hiếu, sĩ - nông - công - thương, hoa lá, phong cảnh cùng nhiều tích tuồng cổ khác. Dù đa dạng nhưng tất cả đều có điểm chung là lấy sự chi tiết, sắc sảo đến mức tinh vi làm trọng.
Nhẫn nại giữ nghề
Từ những bức tranh xà cừ trên tủ thờ do nghệ nhân Khương Văn Lanh tạo tác, người xem dễ dàng nhận thấy ông sử dụng lối khảm ghép mảnh nhỏ chứ không khảm nguyên miếng. Những thân cây, mái nhà, gân lá, cánh chim, dáng người… đều được tạo thành từ nhiều mảnh xà cừ cực nhỏ, cắt theo thớ, tạo hiệu ứng chuyển sắc khi ánh sáng thay đổi. Đây là kỹ thuật rất cao, vì chỉ cần lệch tay một chút là vỡ mảnh, hỏng bố cục. Các đường cong vốn là thứ khó nhất trong khảm được xử lý mềm mại, liền mạch. Điều này cho thấy người thợ làm hoàn toàn bằng tay, kiểm soát lưỡi cưa đến mức gần như "đi theo ý nghĩ".
Những bức tranh khảm xà cừ cực kỳ tinh xảo trên chiếc tủ thờ ẢNH: HOÀNG SƠN
"Để có một bức xà cừ đẹp, người thợ phải hiểu rất rõ tính chất của xà cừ. Chỗ nào dùng mảnh sáng, chỗ nào tiết chế để tránh lóa, chỗ nào cần vân mạnh để làm điểm nhấn, chỗ nào cần mảnh dịu để giữ nền. Xà cừ phải được dùng có chừng mực, đúng chỗ", ông nói và cho biết thêm: "Người làm nghề rất cần sự kiên nhẫn. Với mật độ chi tiết như trên chiếc tủ thờ, mỗi mảng khảm tôi đã dùng hàng trăm, thậm chí hàng nghìn nhát cưa. Nhiều người nói vui rằng chỉ những người coi nghề là một dạng tu tập, làm để giữ danh dự nghề hơn là chạy theo thời gian, mới có thể theo đuổi đến cùng".
Kể về quy trình nghề mới thấy sự kiên trì quan trọng đến thế nào. Ông Lanh cho biết sau khi nhận vật dụng bằng gỗ, người thợ khảm sẽ rã ra, xử lý bề mặt, chà nhám, làm phẳng, chờ gỗ ổn định… Chỉ riêng bước chuẩn bị này cũng mất vài ngày. Từ bản vẽ, ông Lanh cắt giấy theo hình, dán lên gỗ để lấy dấu. Dùng đục âm xuống mặt gỗ khoảng 1 mm, rồi cắt xà cừ mỏng tương ứng để đính vào. "Khó nhất là những đường gân, đường cong, nét nhỏ như sợi tóc đều được cưa hoàn toàn bằng tay. Đồ này giòn lắm. Gãy là phải làm lại. Có chi tiết phải cắt từ nhiều mảnh cực nhỏ rồi ráp lại, chứ không làm nguyên miếng. Ăn nhau là ở cái lối cắt đó", ông Lanh nói.
Bức tranh về thiên nhiên cùng những chi tiết độc đáo, sắc sảo do ông Lanh khảm nên ẢNH: HOÀNG SƠN
Với chữ thư pháp, độ khó còn cao hơn, bởi phải thể hiện được nét phết, nét hất, độ dày mỏng của bút pháp. Người thợ dùng lưỡi cưa và dao thép để khứa từng đường dù nhiều chữ thư pháp bằng Hán tự chỉ nhỏ như móng tay. "Thấy được cái nét phết mới gọi là tới nghề", ông Lanh chia sẻ. "Dù nhiều chi tiết rất nhỏ nhưng tôi không dùng kính lúp như nhiều người tưởng, mà dùng một chiếc đèn rọi đặt dưới mặt gương hoặc dưới miếng khảm. Ánh sáng hắt lên giúp nhìn rõ từng góc nhỏ", ông nói.
Từng lăn lộn khắp miền Nam, làm đủ loại sản phẩm từ giường, tủ, hoành phi, câu đối đến tranh khảm trước khi trở lại quê nhà phụ vợ bán tạp hóa, nghệ nhân Khương Văn Lanh thẳng thắn thừa nhận nghề khảm xà cừ không đủ nuôi sống gia đình. Một chiếc tủ lớn, riêng tiền xà cừ đã khoảng 15 triệu đồng, cộng thêm công cán cỡ 30 triệu, trong khi làm suốt 3 tháng mới xong. Xóm nhỏ nơi làng Địa Linh xưa từng là cái nôi của nghề khảm, nay chỉ còn mình ông bám trụ. Biết rằng nghề đang dần mai một nhưng ông Lanh vẫn miệt mài ngồi lại bên chiếc bàn gỗ cũ, cố níu giữ. "Tiếc cho cái nghề ni lắm. Suy cho cùng, dù là nghề thủ công nhưng làm cho tới nơi tới chốn thì đó cũng là nghệ thuật", ông Lanh nói.









.jpg)



