Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt: Cuộc tri ngộ vua tôi

11:30 - 20/03/2026

Mối quan hệ giữa vua Tự Đức và đại thần Nguyễn Văn Tường là mối quan hệ tri kỷ. Chính trong mối quan hệ đặc biệt hiếm thấy ấy, ông đã được hỏi ý kiến về nhiều vấn đề trong nhiều lĩnh vực khác nhau và đã thẳng thắn tâu bày ý kiến, đôi khi chẳng ngại chạm đến lòng tự ái của bậc quân thượng…

Nguyễn Văn Tường sinh ngày 22.8 năm Giáp Thân, giờ Tuất (14.10.1824), mất lúc 4 giờ 30 sáng 30.7.1886 (29.6 năm Bính Tuất) tại thủ phủ Papeete, đảo Tahiti thuộc Pháp ở Thái Bình Dương.

Theo gia phả, cha ông tên Nguyễn Văn Dậu, mẹ là bà Dương Thị Liên. Ông Dậu có ba vợ (húy Liên, Cảnh và Vệ); họ đã sinh cho ông 12 người con (6 trai, 6 gái). Nguyễn Văn Tường là con trưởng. Gia cảnh "hàn vi" là vì nhiều miệng ăn chứ chẳng phải là không có nhà cửa, ruộng đất. Có lẽ vì vậy mà trong 6 đứa con trai chỉ có Nguyễn Văn Tường được ăn học đàng hoàng và đỗ đạt.

Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt: Cuộc tri ngộ vua tôi

Một góc lăng vua Tự Đức ngày nay tại Huế ẢNH: NINH NGUYỄN

Thuở nhỏ, cậu bé Tường thông minh, ham đọc sách, lớn lên nổi tiếng văn hay. Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), Nguyễn Văn Tường lần đầu lên kinh thi hương ở trường Thừa Thiên và đậu tú tài. Khi duyệt danh sách các tân khoa thi tú tài, nhà vua phát hiện một thí sinh đã mang họ hoàng tộc, đó là Nguyễn Phước Tường, nên giận dữ sai gạch bỏ tên trong sổ tú tài, dạy đổi tên là Nguyễn Văn Tường.

Xét gia phả, ta được biết từ đời thứ nhất đến đời thứ 6 (ông Nguyễn Văn Dậu, thân sinh Nguyễn Văn Tường) không có ai có họ Nguyễn Phước. Đời thứ nhất, hai, ba, tư đều lót chữ Thế (Nguyễn Thế Tráng, Nguyễn Thế Toán, Nguyễn Thế Tá, Nguyễn Thế Trung). Đời thứ năm, thứ sáu lót chữ Văn.

Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao ông Tường lại lấy tên Nguyễn Phước Tường để đi thi? Bản án của Viện Đô sát không được Đại Nam thực lục ghi lại, lời bàn của đình thần, chúng ta cũng không được rõ lý do vì sao vua Tự Đức giảm án và điều gì liên quan đến nhân thân của Nguyễn Văn Tường mà vua Tự Đức cho là "oái oăm", là "chuyện bất bình thuở thiếu niên của Nguyễn Văn Tường". Chính đương sự cũng không để lại một điều gì để ta có thể đoán định cụ thể. Hàng con cháu của ông không ai chính thức bày tỏ nguyên nhân. Phải chăng là điều khó nói? Chỉ biết trong lúc chuyện trò gia đình, người ta cho rằng sở dĩ ông lấy họ Nguyễn Phước để đi thi là vì ông là con rơi của hoàng tử Miên Tông (về sau là vua Thiệu Trị).

May thay, vua Thiệu Trị đã mất 5 năm sau đó (1847) ở tuổi 41. Và vua Tự Đức đã giảm án cho Nguyễn Văn Tường, thuận cho Nguyễn Văn Tường thi hương và ông đã đỗ cử nhân vào tuổi 26. Thế là "ơn đại tạo tác thành" đã thay đổi số phận của Nguyễn Văn Tường. Từ đây "gió mây gặp hội".

Nguyễn Văn Tường chân thành đáp lại sự tin cậy của vua Tự Đức. Ông luôn bày tỏ tình ý thiết tha, sự hàm ân, lòng cảm thông sâu xa với vua về những lo buồn, day dứt của nhà vua về vận nước và cả nỗi buồn riêng vì chưa có hoàng tử nối dõi. Ông hứa sẽ tận lực vì vua, vì nước.

Tám năm vận hạn (1842 - 1850) là thời gian đủ cho Nguyễn Văn Tường tiềm dưỡng để chín chắn hơn, trưởng thành hơn, để với ơn tri ngộ, bắt đầu một sự nghiệp rõ ràng, từ một chức khiêm tốn Tri huyện Thành Hóa ở quê hương Quảng Trị. Nhưng trên tất cả là cuộc hội ngộ vua tôi.

Quan hệ Tự Đức - Nguyễn Văn Tường, trên thực tế, vượt xa quan hệ vua tôi. Vua Tự Đức rất tin dùng Nguyễn Văn Tường, có thể bàn bạc với Nguyễn Văn Tường mọi băn khoăn, suy nghĩ của mình. Ngược lại, Nguyễn Văn Tường có thể nói thẳng với nhà vua những ý nghĩ của mình về việc và về người liên hệ đến vận mệnh đất nước mà không ngại vua sẽ bắt lỗi là bất kính, là phạm thượng. Vua gọi cuộc gặp gỡ ấy là "tri ngộ", tôi gọi đó là "hạnh ngộ" (Theo Tộc phả họ Trương Đăng thì chính Trương Đăng Quế đã phát hiện tài năng của Nguyễn Văn Tường và đề nghị xóa án cho Nguyễn Văn Tường).

Châu phê trên bản tấu đề ngày 1.7 năm Tự Đức 21 (1868) của Nguyễn Văn Tường về tình hình lương, dữu (tín đồ Thiên Chúa giáo - NV): "Chức tước của khanh là do ân mệnh. Là bởi nghĩ đến ngày xưa siêng năng, lao nhọc, được ơn tri ngộ, chứ không phải tầm thường. Như ta từ khi lên ngôi đến nay, đối với khanh, chưa có mảy may gì ân huệ, đã từng lấy lễ nghĩa tình cảm đối đãi (tình lễ tương đãi), mỗi khi có hỏi han gì, khanh từng cảm kích, ứa nước mắt, ta cho là ý khí càng hợp nhau".

Phải, vì là "ân tri ngộ", vì là "ý khí cùng hợp nhau" nên vua Tự Đức căn dặn Nguyễn Văn Tường không được đắn đo, ngại ngùng khi phải phản ánh trung thực tất cả những gì ông biết cho vua. 

(Trích từ sách Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành)

 

 
 

 

 

 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

Tra cứu 3321 phường xã của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập

LỊCH PHÁT SÓNG TRUYỀN HÌNH

Thanh toán hóa đơn SCTV

Nữ điệp viên ngầm - SCTV9

Hoán đổi nhân tâm - SCTV9

Quý cô lỡ thì - SCTV9

Tình đầu - SCTV14

 

Tin tổng hợp

Liên kết trang

 

Truyen hinh cap va Mang Internet SCTV

 

sctvonline

Trang tin sống động từng giây scj-shopping
Trang tin chuyện nóng 24h

 

Kết quả xổ số

 

Nguồn: Minh Ngọc

Truyền hình - Điện ảnh

Scroll

Đang gửi...