ĐHQG phải là trung tâm đào tạo nhân tài và nhân lực chiến lược cho đất nước
ẢNH: NHẬT THỊNH
BỐI CẢNH MỚI VÀ YÊU CẦU ĐỊNH VỊ LẠI SỨ MỆNH
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là giai đoạn VN hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế và vị thế ngày càng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong giai đoạn này, lợi thế phát triển không còn chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay mở rộng vốn đầu tư, mà ngày càng phụ thuộc vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng thể chế, năng lực quản trị và trình độ nhân lực.
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ tài chính và các nền tảng số đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh đó, các ĐH nghiên cứu hàng đầu không chỉ là nơi truyền bá tri thức, mà phải là nơi tạo ra tri thức, chuyển hóa tri thức thành công nghệ, biến công nghệ thành năng lực sản xuất và góp phần xây dựng thể chế phát triển.
Đối với ĐH Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM), yêu cầu định vị lại sứ mệnh càng trở nên cấp thiết. Nếu trước đây, vai trò chủ yếu của ĐHQG-HCM được nhìn nhận trên 3 phương diện: đào tạo, nghiên cứu, và gắn kết cộng đồng, thì trong giai đoạn mới, cần mở rộng sang vai trò kiến tạo phát triển.
ĐHQG-HCM không chỉ là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn ở phía nam, mà cần được xác lập như một thiết chế chiến lược của quốc gia trong không gian phát triển năng động nhất cả nước.
SỨ MỆNH MỚI TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
ĐHQG phải là trung tâm đào tạo nhân tài và nhân lực chiến lược cho quốc gia. Điều này yêu cầu phải đào tạo được đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia công nghệ, chuyên gia chính sách, nhà quản trị, doanh nhân đổi mới sáng tạo và thế hệ lãnh đạo có tư duy toàn cầu, bản lĩnh dân tộc và năng lực phụng sự đất nước.
Để trở thành trung tâm nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi, ĐHQG-HCM cần ưu tiên các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vi mạch, công nghệ sinh học, y sinh, vật liệu mới, năng lượng tái tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng, đô thị thông minh, logistics, kinh tế số và công nghệ xanh. Đây không chỉ là các hướng nghiên cứu khoa học, mà là những nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của đất nước.
ĐHQG-HCM cần được định vị là trung tâm tư vấn chính sách và cung cấp luận cứ khoa học cho phát triển. TP.HCM và vùng Nam bộ đang đứng trước nhiều bài toán lớn: xây dựng siêu đô thị, phát triển trung tâm tài chính quốc tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, chuyển đổi xanh khu công nghiệp, phát triển hạ tầng số, quản trị dữ liệu, thích ứng biến đổi khí hậu và liên kết vùng. Những vấn đề này đòi hỏi tư duy liên ngành, dữ liệu lớn, mô hình phân tích hiện đại và năng lực dự báo chính sách. ĐHQG-HCM phải là nơi cung cấp các luận cứ đó.
ĐHQG-HCM phải là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đại học - doanh nghiệp - nhà nước.
ĐHQG-HCM phải là không gian văn hóa học thuật và phát triển con người toàn diện. Trong khi khoa học công nghệ tạo ra năng lực cạnh tranh, thì văn hóa, đạo đức, bản lĩnh và tinh thần phụng sự tạo nên chiều sâu phát triển.
Phải gắn sứ mệnh ĐHQG-HCM với các nghị quyết chiến lược: Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là nền tảng trực tiếp để phát huy vai trò đại học nghiên cứu.
Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển. Đây là cơ sở để ĐHQG-HCM tham gia sâu hơn vào nghiên cứu chính sách, pháp luật và thiết kế các cơ chế thử nghiệm.
Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân mở ra yêu cầu gắn đại học với doanh nghiệp. Nếu kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, thì đại học phải là nơi cung cấp tri thức, nhân lực, công nghệ và năng lực đổi mới cho khu vực này.
Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là cơ sở để ĐHQG-HCM đổi mới mô hình đào tạo. Đào tạo đại học không thể chỉ truyền đạt kiến thức, mà phải phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng và năng lực học tập suốt đời.
Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh vai trò của văn hóa như nguồn lực nội sinh. Đối với ĐHQG-HCM, điều này đòi hỏi việc phát triển khoa học công nghệ phải gắn với phát triển con người, đạo đức, văn hóa học thuật và trách nhiệm xã hội. Một đại học quốc gia không thể chỉ mạnh về công nghệ, mà còn phải là nơi nuôi dưỡng nhân cách, khí phách, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam.
Các ĐH nghiên cứu hàng đầu không chỉ là nơi truyền bá tri thức, mà phải là nơi tạo ra tri thức, chuyển hóa tri thức thành công nghệ, biến công nghệ thành năng lực sản xuất và góp phần xây dựng thể chế phát triển
Ảnh: Nhật Thịnh
CÁC CHÍNH SÁCH ĐỘT PHÁ ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG SỨ MỆNH
Trước hết, cần trao cho hai ĐHQG nói chung và ĐHQG-HCM nói riêng cơ chế tự chủ đặc biệt gắn với trách nhiệm giải trình quốc gia. Tự chủ ở đây không chỉ là tự chủ tài chính, mà bao gồm tự chủ học thuật, nhân sự, tổ chức bộ máy, tài sản, hợp tác quốc tế và lựa chọn nhiệm vụ khoa học công nghệ. ĐHQG cần được quyền tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài theo cơ chế cạnh tranh, thành lập đơn vị nghiên cứu mới, hợp tác với doanh nghiệp, sử dụng tài sản công cho đổi mới sáng tạo và phân bổ nguồn lực theo kết quả đầu ra.
Thành lập "Policy Lab ĐHQG-HCM" như một phòng thí nghiệm chính sách quốc gia ở phía nam. Policy Lab này có nhiệm vụ nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá và đề xuất chính sách trong các lĩnh vực mới như trung tâm tài chính quốc tế, sandbox công nghệ, quản trị dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, chuyển đổi xanh, kinh tế biển, logistics vùng, đô thị thông minh và đổi mới sáng tạo trong khu vực công. Đây sẽ là cầu nối giữa tri thức học thuật và quyết sách quản trị.
Xây dựng các trung tâm xuất sắc về công nghệ chiến lược, tập trung nguồn lực cho một số lĩnh vực mũi nhọn. Các trung tâm này phải được vận hành theo mô hình mở, có sự tham gia của nhà khoa học, doanh nghiệp, chuyên gia quốc tế và chính quyền địa phương.
Hình thành Quỹ Đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ trong ĐHQG. Đây là công cụ tài chính nhằm hỗ trợ giai đoạn sau nghiên cứu, bao gồm hoàn thiện nguyên mẫu, thử nghiệm, kiểm định, đăng ký sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn hóa, gọi vốn và thành lập doanh nghiệp spin-off.
Cần thiết lập cơ chế đặt hàng lớn từ Nhà nước, TP.HCM, vùng Đông Nam bộ và doanh nghiệp. ĐHQG chỉ có thể phát huy vai trò quốc gia khi được giao những bài toán quốc gia.
Đột phá trong đào tạo sau đại học, tiến sĩ và chương trình tài năng. Muốn trở thành đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á, ĐHQG phải nâng mạnh tỷ trọng đào tạo sau đại học, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và chính sách công.
Có cơ chế thu hút nhân tài toàn cầu và người VN ở nước ngoài. ĐHQG cần được phép áp dụng chế độ hợp đồng linh hoạt, lương cạnh tranh, ngân sách khởi động nghiên cứu, phòng thí nghiệm riêng và quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng để thu hút chuyên gia giỏi.
Phát triển khu đô thị ĐHQG-HCM thành khu đô thị đổi mới sáng tạo. Khu đô thị đại học không chỉ là nơi học tập, mà phải là không gian tích hợp giữa đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, doanh nghiệp công nghệ, không gian khởi nghiệp, nhà ở chuyên gia, hạ tầng số, giao thông công cộng và thiết chế văn hóa. Đây phải là một "innovation district" thực sự, kết nối với Khu Công nghệ cao TP.HCM, các khu công nghiệp, trung tâm tài chính, doanh nghiệp công nghệ và mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc tế.












