Ngành giáo dục cần đi trước để biết phải trang bị gì cho trẻ em khi bước vào không gian số
Ảnh: T.N tạo bởi AI
Thiếu hạ tầng giáo dục số thay thế và nguy cơ lách quy định
Sự lo lắng của các đại biểu Quốc hội là dễ hiểu. Một đứa trẻ 12 tuổi ngồi trước màn hình 4-5 tiếng mỗi tối, cuộn vô tận qua những video mà thuật toán biết rõ cách giữ chân hơn chính bố mẹ. Và khi người lớn không đủ thời gian theo dõi con em, khi nhà trường chưa hướng dẫn các em sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn thì ý tưởng cấm như một lối thoát. Nhưng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay cấm có thể là một "lối thoát trên giấy''.
Vấn đề thứ nhất nằm ở chính định nghĩa. Điều 33 luật Trẻ em 2016 ghi nhận trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp, có quyền tìm kiếm và thu nhận thông tin dưới mọi hình thức, được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi và năng lực.
Mạng xã hội năm 2026 không còn là một kênh giải trí mà có thể bóc tách riêng để cấm. Nó là hạ tầng giao tiếp của lớp học, của nhóm học thêm, của câu lạc bộ đọc sách, của đội tuyển học sinh giỏi, của các dự án STEM liên trường.
Úc có thể cấm vì họ có hạ tầng giáo dục số thay thế, có Learning Management System quốc gia, có kênh liên lạc giáo viên phụ huynh không phụ thuộc các nền tảng thương mại. Chúng ta thì ngược lại. Suốt giai đoạn Covid-19 và cho đến tận bây giờ, chính các nhóm Zalo lớp học, các fanpage trường, các buổi livestream ôn thi trên YouTube đã trở thành lớp học thứ hai của hàng triệu học sinh, trong khi Bộ GD-ĐT chưa có một nền tảng chính thức nào đủ sức thay thế.
Vấn đề thứ hai là khả năng về hiệu lực thực thi. Nghị định 147/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ 25.12.2024 đã quy định trẻ dưới 16 tuổi khi đăng ký mạng xã hội phải dùng thông tin của cha mẹ, đồng thời phụ huynh có trách nhiệm giám sát nội dung và quá trình sử dụng. Đây là một bước đi đúng hướng, đặt trách nhiệm giám sát vào tay người có khả năng giám sát thực sự.
Nhưng thực tế trẻ em mượn điện thoại người lớn, lập tài khoản ẩn danh, khai gian tuổi. Một lệnh cấm cứng hơn không xóa được những ngả lách này, nó chỉ đẩy các em sang những nền tảng ít được quản lý hơn, hoặc tệ hơn là vào những không gian ẩn danh nơi phụ huynh mất nốt khả năng quan sát. Chính UNICEF đã cảnh báo rằng các lệnh cấm mang tính bao trùm có thể dẫn đến hệ quả ngoài mong muốn khi trẻ tìm cách lách quy định.
Trẻ em sử dụng mạng xã hội ngày càng phổ biến
Ảnh: Độc Lập
Cần trang bị kỹ năng cho học sinh bước vào không gian số
Vấn đề thứ ba là khoảng trống của ngành giáo dục. Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT đã đưa tin học thành môn bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 9. Trên lý thuyết, chương trình yêu cầu học sinh hình thành năng lực ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật trong môi trường số hóa. Trên thực tế thì phần lớn giờ tin học ở các trường phổ thông hiện nay vẫn dừng ở Word, Excel và chút lập trình Scratch, còn nội dung quan trọng nhất với một đứa trẻ năm 2026 là nhận diện thông tin giả, hiểu cơ chế thuật toán gợi ý, phòng chống bắt nạt mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân thì lại gần như bỏ ngỏ.
Ngành giáo dục cần đi trước để biết phải trang bị gì cho trẻ em khi bước vào không gian số. Bởi cấm hay không cấm rồi cũng sẽ đến lúc các em 16 - 18 tuổi và bước vào mạng xã hội với tư cách một người sử dụng trưởng thành. Câu hỏi không phải là trì hoãn tuổi truy cập thêm vài năm mà là trong khoảng thời gian đó nhà trường đã dạy các em những gì.
Một chính sách tốt phải đồng thời bảo vệ trẻ khỏi rủi ro và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục hiện đại của trẻ, hai điều này không được phép triệt tiêu nhau. Do đó trước khi bàn đến ngưỡng tuổi và danh sách nền tảng bị cấm, phía Bộ GD-ĐT cần xem xét các yếu tố sau:
Một là, bao giờ có chương trình giáo dục năng lực số chính thức tích hợp vào môn giáo dục công dân và tin học với chuẩn đầu ra đo đếm được cho từng cấp học?
Hai là, nền tảng học tập số quốc gia có đủ sức thay thế các nhóm Zalo, Facebook trong giao tiếp nhà trường và phụ huynh sẽ xây dựng theo lộ trình nào?
Ba là, cơ chế phối hợp giữa Bộ GD-ĐT, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xác minh độ tuổi và bảo vệ dữ liệu cá nhân của học sinh trên các nền tảng số sẽ vận hành ra sao, dưới sự điều phối của cơ quan nào.
Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng là công việc không thể khoán trắng cho một điều cấm trong luật mà đòi hỏi nhà trường phải trở thành nơi dạy trẻ sống trong thế giới số với những đổi thay liên tục.












